TRANG CHỦ English  LIÊN HỆ
Khoa Giáo dục Chính trị


Quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh - bậc vĩ nhân của dân tộc Việt Nam, là người học trò xuất sắc của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin. Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử, văn hoá và con người Việt Nam, giải đáp những yêu cầu lý luận và thực tiễn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc là một trong những chuỗi luận về sự vận dụng và phát triển sáng tạo đó.

A.    MỞ ĐẦU

 

1. Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh - bậc vĩ nhân của dân tộc Việt Nam, là người học trò xuất sắc của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin. Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử, văn hoá và con người Việt Nam, giải đáp những yêu cầu lý luận và thực tiễn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc là một trong những chuỗi luận về sự vận dụng và phát triển sáng tạo đó.

Trong thực tế, qua một số bài báo, công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước đã đề cập đến những giá trị lý luận của Người. Tuy nhiên, sự đề cập này mang tính khái quát cao hoặc được diễn đạt trong cả hệ thống lý luận khoa học của Người, hoặc chỉ đề cập dưới dạng ý nghĩa rút ra so với yêu cầu của thực tiễn. Điều này thật sự làm cho người học, người nghiên cứu thực sự khó khăn trong việc phát hiện, khái quát, lôgic những tư tưởng, luận điểm cũng như những nội dung vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của việc học tập, nghiên cứu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ trang bị cho chúng ta hệ thống những quan điểm sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đó, nâng cao hơn nữa cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc cũng như toàn bộ tư tưởng của Người.

Khai thác, học tập, nghiên cứu, hệ thống hoá tri thức và vận dụng di sản tinh thần phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay là nhiệm vụ hàng đầu của những người làm công tác nghiên cứu lý luận. Xuất phát những lý do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm phân tích cơ sở khoa học của sự vận dụng và phát triển học thuyết Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc, chỉ ra được những quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề này và vận dụng vào công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Đồng thời, hệ thống hóa những giá trị lý luận và thực tiễn, những quan điểm sáng tạo của Người về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở khoa học của việc vận dụng và phát triển học thuyết Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc.

- Nêu được những quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.

- Làm rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc đối với công cuộc đổi mới hiện nay.

4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Những nội dung, luận điểm sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nhiều tác giả nghiên cứu trình bày trong hệ thống tư tưởng của Người. Đó là những công trình nghiên cứu lớn có tính khái quát hoá cao, lôgic, biện chứng với nhau và được luận giải ở nhiều góc độ khác nhau, được diễn đạt trong cả hệ thống lý luận hay chỉ đề cập dưới dạng ý nghĩa rút ra so với yêu cầu của thực tiễn… Những luận điểm sáng tạo đó có thể được tìm thấy ở một số tài liệu sau:

- PGS. TS Nguyễn Khánh Bật (chủ biên), Những bài giảng về môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội. 2003.

- Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2003.

- TS. Đinh Xuân Lý (chủ biên), Một số chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.

- GS. Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, 2005.

- Danh nhân Hồ Chí Minh, Nxb Lao động, Hà Nội, 2000

- Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.

- Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh (Tài liệu phục vụ dạy và học Chương trình các môn Lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng), Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 208.

... ...

Nhìn chung, có thể tìm thấy ở những tài liệu này một số điểm mới, tư tưởng, luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, với đề tài nghiên cứu này, tác giả cố gắng chắt lọc, hệ thống hoá những quan điểm, luận điểm, nội dung sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc. Trên cơ sở đó nêu rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

5. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chọn lựa nội dung Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc để tiến hành nghiên cứu.

6. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này trên cơ sở phương pháp luận chung: thế giới quan, phương pháp luận khoa học chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đồng thời cần áp dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp lịch sử

- Phương pháp lôgic

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

 

B. NỘI DUNG

 

Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN
HỌC THUYẾT MÁC-LÊNIN VỀ CÁCH MẠNG
GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

 

1.1. Cơ sở lý luận

1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về việc vận dụng và phát triển học thuyết đó vào thực tiễn

Chủ nghĩa duy vật mác-xít là đỉnh cao của thế giới quan duy vật, là chủ nghĩa duy vật khoa học triệt để nhất với sự cống hiến vĩ đại của Mác là sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chủ nghĩa duy vật lịch sử không phải đơn thuần là sự vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào lĩnh vực xã hội. Để có chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác đã phải tiến hành tổng kết lịch sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ sở khái quát thực tiễn mới. Lênin viết: “Tất cả những cái gì mà tư tưởng loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phê phán, và đã thông qua phong trào công nhân mà kiểm tra lại” [21, 20].

Triết học mác-xít là thế giới quan của giai cấp công nhân - giai cấp tiến bộ và cách mạng của thời đại. Triết học Mác ra đời, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động có thế giới quan khoa học và cách mạng, là vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi áp bức và bóc lột. Lênin viết: “Triết học Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”.

Cống hiến vĩ đại thứ hai của Mác là đã tạo ra là phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp. Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế giới quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người trong việc nhận thức và cải tạo thể giới, trở thành phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng. Phép biện chứng duy vật là cơ sở phương pháp luận, chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp cách mạng khoa học và đúng đắn. Bất cứ hành động cách mạng nào, nếu xa rời những quan điểm và nguyên tắc của phép biện chứng duy vật, thì sớm muộn gì cũng sẽ phải trả giá cho điều đó. Như vậy, Mác đã dạy cho những người cách mạng biết rằng phép biện chứng duy vật trở thành công cụ quan trọng bậc nhất không thể thiếu được của nhận thức và hành động để cải tạo hoàn cảnh và cải tạo bản thân.

Bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng loài người là sự ra đời của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - “cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng nhiều bộ sách” (Lênin). Tuyên ngôn không chỉ khái quát những thành tựu to lớn cuộc cách mạng tư tưởng của loài người mà còn quán triệt sâu sắc quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong suốt toàn bộ tác phẩm. Mặc dù có tính cách mạng, triệt để tuy nhiên Mác và Ăngghen nhiều lần nhắc nhở rằng học thuyết khoa học của hai ông không bao giờ hoàn bị, không bao giờ là chân lý muôn thủa. Trong lời tựa năm 1872 cho bản tiếng Đức, hai ông viết: “Mặc dù hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong hai mươi lăm năm qua, những cho đến nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổng quát trình bày trong “Tuyên ngôn” này vẫn còn hoàn toàn đúng. Ở đôi chỗ, có một vài chi tiết cần phải xem lại. Chính ngay “Tuyên ngôn” cũng đã giải thích rõ ràng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ở cuối chương II...” [5, 15].

Tiếp bước Mác-Ăngghen, Lênin đã nêu lên tấm gương sáng về việc nắm vững và vận dụng tài tình phép biện chứng duy vật trong việc nhận định khả năng về phương pháp tiến hành cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cũng như sự vận dụng tài tình phép biện chứng duy vật để vạch ra Chính sách kinh tế mới - cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện một nước kém phát triển.

Đối với Hồ Chí Minh, khi xem xét sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin ở phương Tây và phương Đông và trả lời cho câu hỏi: “khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không?” trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Người viết: “...Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời điểm mình không thể có được... Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” [14, 465]. Người còn cho rằng: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các nhà Xôviết đảm nhiệm” [14, 465].

Như vậy, với hai phát kiến vĩ đại của Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng với sự ra đời của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã làm cho tư tưởng của Mác có tính cách mạng triệt để và vô cùng sâu sắc. Sự chỉ dẫn của Mác trong việc vận dụng học thuyết Mác-Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn cách mạng của các nước đã được Lênin và Hồ Chí Minh vận dụng một cách xuất sắc. Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga và cách mạng tháng Tám đã minh chứng cho sức sống của học thuyết Mác và sự vận dụng sáng tạo của Lênin và Hồ Chí Minh.

1.1.2. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc

Vấn đề dân tộc trong triết học Mác-Lênin là những vấn đề rộng lớn. C. Mác, Ph. Ăngghen đã nêu lên những quan điểm cơ bản có tính phương pháp luận để nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc như nguồn gốc, bản chất của dân tộc, những quan hệ cơ bản của dân tộc, thái độ của giai cấp công nhân và đảng của nó đối với vấn đề dân tộc cũng như mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc.

Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác và Ăngghen đã đề cập đến vấn đề dân tộc, đặc biệt, các ông đã làm rõ mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc. Hai ông viết: Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, ở giai đoạn đầu của nó là mang tính chất dân tộc, vì “Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số” [6, 611]. Vì vậy, “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc” [6, 611] . Từ đó, Mác kêu gọi: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu” [6, 623-624].

Theo Mác-Ăngghen, chỉ có giai cấp vô sản mới thống nhất được lợi ích của giai cấp mình với lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Có triệt để xoá bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp mới có thể có điều kiện xoá bỏ ách áp bức dân tộc, mới đem lại độc lập thật sự cho dân tộc mình và cho các dân tộc khác. Chỉ có cuộc cách mạng do chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo mới thực hiện được sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Tuy nhiên, ở thời đại Mác-Ăngghen, hai ông không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc vì vấn đề này ở Tây Âu đã cơ bản được giải quyết trong cách mạng tư sản; nhất là các ông chưa có điều kiện để luận bàn nhiều vấn đề dân tộc thuộc địa. Đúng như Lênin từng nhận định, đối với Mác, so với vấn đề giai cấp vô sản thì vấn đề dân tộc chỉ là một vấn đề thứ yếu thôi.

Kế thừa quan điểm của Mác-Ăngghen, Lênin đã phát triển thành hệ thống lý luận toàn diện và sâu sắc về vấn đề dân tộc. Theo Lênin, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Trước dân tộc là các hình thức cộng đồng tiền dân tộc như thị tộc, bộ tộc, bộ lạc. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự ra đời của các nhà nước dân tộc tư bản chủ nghĩa. Khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đế quốc thi hành chính sách xâm lược thuộc địa, vấn đề dân tộc trở nên gay gắt, từ đó xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa.

Ở thời đại của Lênin, chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống trên toàn thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc đã thực sự trở thành một nhân tố quan trọng của các dân tộc thuộc địa, là một bộ phận của cách mạng vô sản. Với thực tiễn đó, Lênin có điều kiện để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa và kế thừa những quan điểm trước đó của Mác-Ăngghen để phát triển thành học thuyết về cách mạng thuộc địa. Theo Lênin, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc sẽ không thể giành được thắng lợi nếu nó không biết liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Từ đó, Lênin bổ sung khẩu hiệu của Mác thành: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức , đoàn kết lại!”

Như vậy, C. Mác, Ph. Ăngghen và Lênin đã nêu lên những quan điểm cơ bản về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu, thực tiễn và mục tiêu của cách mạng vô sản ở châu Âu, các ông tập trung nhiều vào vấn đề giai cấp, coi đó là chìa khoá giải quyết vấn đề cách mạng, đặt lên hàng đầu nhiệm vụ bảo vệ lợi ích chung cho toàn thể giai cấp vô sản. Điều này hoàn toàn đúng với đòi hỏi của thực tiễn cách mạng vô sản ở châu Âu đang đặt ra lúc bấy giờ. Cũng như Lênin, Hồ Chí Minh đã bổ khuyết những gì Mác và Ăng ghen chưa thực hiện được ở thời đại của các ông. Hồ Chí Minh - chiến sĩ cộng sản đầu tiên đã mở đường cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ vô sản.

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Thực tiễn cách mạng châu Âu và nước Nga

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) bùng nổ, nhiều dân tộc đã bị đẩy vào những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Cuối năm 1914 trên toàn châu Âu làn sóng bạo lực, phi dân chủ bao trùm, mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp xã hội trở nên gay gắt, tư tưởng sôvanh nước lớn được truyền bá khắp nơi, mối quan hệ thù địch giữa các dân tộc tăng cao, chế độ chính trị cảnh sát hà khắc được thiết lập ở nhiều quốc gia, nhân loại đứng trước thảm hoạ của nạn diệt chủng, những giá trị nhân văn của loài người đã đạt được trong thế kỷ XIX đứng trước nguy cơ bị huỷ diệt.

Thực tiễn cách mạng châu Âu và nước Nga những năm trước Cách mạng tháng Mười cũng không nằm ngoài vòng xoáy lịch sử đó. Chiến tranh thế giới thứ nhất đã tác động mạnh mẽ đến các nước trên lãnh thổ châu Âu và đẩy những mâu thuẫn trong nội tại nước Nga lên đỉnh điểm. Riêng ở nước Nga, trong cuộc chiến tranh bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, Nga hoàng đã tăng cường bóc lột các giai cấp bị trị, đẩy nước Nga đến sự bần cùng hoá. Để thoát khỏi tình cảnh đó, các dân tộc chỉ có con đường tiến hành cuộc cách mạng xã hội.

Nước Nga trước cách mạng có đặc điểm cơ bản là một nước tư bản chủ nghĩa tầm trung. Chủ nghĩa tư bản Nga phát triển muộn và ngày càng lạc hậu, phụ thuộc vào các nước phương Tây. Nguyên nhân của tình trạng lạc hậu ấy là do sự tồn tại nặng nề bởi những tàn tích của chế độ phong kiến - nông nô. Về chính trị, nước Nga là một nước quân chủ chuyên chế, toàn bộ quyền lực chính trị trong nước đều thuộc Nga hoàng. Chế độ Nga hoàng trở thành nhà tù của các dân tộc. Nhân dân các dân tộc không thuộc Nga rên xiết dưới hai ách áp bức: áp bức dân tộc của chế độ Nga hoàng và ách áp bức xã hội của bọn chúa đất và tư sản địa phương.

Sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản độc quyền và những quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa, sự kết hợp những hình thái kinh tế tiên tiến nhất và lạc hậu nhất đã làm cho nước Nga trở thành nơi hội tự cao nhất những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc: mâu thuẫn giữa tư bản và vô sản, mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, mâu thuẫn giữa đế quốc Nga với các dân tộc bị áp bức, mâu thuẫn giữa đế quốc Nga với các nước đế quốc Tây Âu. Toàn bộ những mâu thuẫn này chống chéo lên nhau và ngày càng gay gắt làm cho nước Nga trở thành khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc thế giới. Chính sự gay gắt của những mâu thuẫn đó đã dẫn đến sự hình thành những tiền đề khách quan cho một cuộc cách mạng xã hội ở nước Nga, trước hết là giai cấp vô sản Nga. Mặc dù số lượng không đông, chỉ chiếm khoảng 10% dân số nhưng giai cấp vô sản Nga có nhiều ưu điểm nổi bật về chất lượng, tinh thần và khả năng cách mạng, có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất. Điều có ý nghĩa quan trọng là giai cấp vô sản Nga đã xây dựng được chính Đảng tiên phong, cách mạng chân chính, đó là Đảng bônsêvích Nga do lãnh tụ thiên tài V.I. Lênin đứng đầu. Được vũ trang bằng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác, có khả năng lôi cuốn, tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân trong cả nước. Bên cạnh đó, giai cấp vô sản Nga còn có mối liên hệ chặt chẽ với nông dân lao động và nhân dân các dân tộc bị áp bức. Giai cấp nông dân - trước hết là nông dân nghèo - là lực lượng to lớn, là bạn đồng minh tin cậy của giai cấp công nhân. Trong những điều kiện của giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, mâu thuẫn dân tộc và cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc trên phạm vi toàn thế giới đã trở thành nhu cầu chính yếu không ngừng tăng lên.

Thực tiễn nước Nga từ cuối năm 1916 đến đầu năm 1917 đã tạo ra những tiền đề cho một cuộc cách mạng. Lênin cho rằng: “Nội dung xã hội của cuộc cách mạng săp nổ ra ở nước Nga chỉ có thể là nền chuyên chính dân chủ cách mạng của giai cấp vô sản và nông dân. Cách mạng không thể giành thắng lợi ở Nga, nếu không lật đổ chế độ quân chủ và bọn địa chủ phong kiến. Song giai cấp vô sản không thể lật đổ chúng nếu không được nông dân giúp đỡ” [22, 238]. Trong điều kiện lịch sử mới, Lênin đã chỉ ra: cuộc cách mạng dân chủ tư sản sắp tới ở Nga có nhiều khả năng thuận lợi và “hết sức gần” để chuyển sang cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngày 28 tháng 02, trên phạm vi cả nước, cuộc Cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai năm 1917 đã thắng lợi, chế độ Nga hoàng sụp đỗ, nước Nga trở thành nhà nước cộng hoà dân chủ. Tuy nhiên, tình hình nước Nga lúc này có hai chính quyền cách mạng song song tồn tại: Chính phủ tư sản lâm thời và Xôviết đại biểu công nhân, nông dân và binh lính. Hai chính quyền này đại diện cho lợi ích các giai cấp khác nhau nên không thể cùng tồn tại trong một nước và sự xung đột không thể tránh khỏi.

Từ mùa thu năm 1917, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, binh lính và các dân tộc thiểu số diễn ra sôi nổi, dồn dập với quy mô lớn. Một tình thế cách mạng đã hình thành trong nước. Lênin nhận định: “Hiện nay, tình thế đã thay đổi khác hẳn. Chúng ta đã giành được đa số trong giai cấp đứng đầu trong đội tiên phong của cách mạng, đội tiên phong của nhân dân và có khả năng lôi cuốn quần chúng theo mình. Chúng ta đã giành được đa số nhân dân. Thắng lợi chắc chắn thuộc về chúng ta”. Nước Nga đã tiến sát tới một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Từ ngày 24/10, Lênin đã trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Tối 26/10, trong buổi họp thứ hai Đại hội Xô Viết toàn Nga đã thông qua hai văn kiện đầu tiên của Chính quyền Xô viết - Sắc lệnh hoà bình và sắc lệnh ruộng đất do Lênin dự thảo. Trong đó, sắc lệnh hoà bình lên án cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa là “một tội ác lớn nhất của nhân loại” và đề nghị các nước tham chiến nhanh chóng đàm phán để kí kết một hoà ước dân chủ công bằng - không có thôn tính đất đai và bồi thường chiến tranh. Sắc lệnh ruộng đất tuyên bố thủ tiêu không bồi thường ruộng đất của giai cấp địa chủ quý tộc và của các sở hữu lớn khác, quốc hữu hoá toàn bộ ruộng đất. Đến cuối tháng 3 năm 1918, chính quyền Xô viết đã giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước Nga rộng lớn. Thắng lợi của cách mạng tháng Mười đã mở ra thời kỳ nước Nga bước vào công cuộc xây dựng chính quyền Xô viết.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 có ý nghĩa lịch sử trọng đại, không những đối với nước Nga mà còn đối với thế giới. Cách mạng tháng Mười đã mở ra kỷ nguyên mới cho nước Nga - kỷ nguyên giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc không thuộc Nga thoát khỏi gông xiềng nô lệ. Cách mạng tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến  tiến trình lịch sử và cục diện thế giới. Thế giới sau cách mạng tháng Mười đã phân chia thành hai hệ thống đối trọng - hệ thống xã hội xã hội chủ nghĩa và hệ thống xã hội tư bản chủ nghĩa. Đồng thời, cách mạnh tháng Mười đã mở cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân các nước, chỉ ra cho họ con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.

Cách mạng tháng Mười Nga cũng đã mở ra thời kì mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và Mĩ la tinh, trong đó có Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” [17, 300]. Cách mạng tháng Mười đã đáp ứng những đòi hỏi cấp bách trong cuộc đấu tranh giải phóng của các giai cấp bị bóc lột và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Bài học từ Cách mạng tháng Mười và bài học từ bản lĩnh phi thường, sự tinh tường, nhạy bén của Lênin về sự vận dụng chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga đã soi sáng cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống quan điểm về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, mở ra thời kì đấu tranh cho phong trào đấu tranh cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX.

1.2.2. Thực tiễn cách mạng Việt Nam

Những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển và chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tư sản ở các nước phương Tây đã ra sức xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường, chiếm đoạt nguyên liệu, bóc lột nhân công và tiêu thụ sản phẩm cho chính quốc. Trong xu thế đó, Việt Nam cũng đứng trước nguy cơ xâm lược của các nước đế quốc phương Tây.

 Trước sự ươn hèn của triều đình phong kiến nhà Nguyễn với việc ký với thực dân Pháp Điều ước 1883, chấp nhận chủ quyền của Pháp trên toàn cõi nước ta, Việt Nam từ một quốc gia độc lập, thống nhất đã trở thành một xứ “bảo hộ”, thực chất là thuộc địa của đế quốc Pháp.

Từ đây phong trào yêu nước kháng Pháp của nhân dân ta diễn ra khắp nơi. Từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước lan rộng khắp cả nước. Đầu tiên là cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp ở Đà Nẵng do Nguyễn Tri Phương chỉ huy, tiếp đó là sự đứng lên của quân và dân Gia Định và các tỉnh miền Nam Kỳ như phong trào yêu nước của Trương Định, Nguyễn Trung Trực; ở Trung Kỳ có phong trào yêu nước của Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng; ở Bắc Kỳ với phong trào yêu nước của Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích... Tiêu biểu cho phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến là phong trào Cần Vương (1885-1896), phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo... Tuy nhiên, do hạn chế bởi điều kiện giai cấp, điều kiện lịch sử, mục tiêu chiến đấu; do không đề ra được một đường lối kháng chiến vừa thoả mãn được nguyện vọng độc lập dân tộc, vừa thoả mãn được yêu cầu cải thiện đời sống của nhân dân. Vì vậy, những cuộc khởi nghĩa này không thể phát triển thành những cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Phong trào chỉ là sự tiếp nối nhau của nhiều cuộc kháng chiến riêng lẻ, thiếu sự thống nhất. Thất bại của phong trào là một tất yếu lịch sử. Tuy thất bại, nhưng phong trào yêu nước giai đoạn này đã để lại cho lịch sử nhiều bài học kinh nghiệm chiến đấu quý báu, những tấm gương dũng cảm hy sinh vì độc lập dân tộc.

Đến đầu thế kỉ XX, khi thực dân Pháp hoàn toàn đặt ách đô hệ lên đất nước ta và biến nước ta thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến với những biến đổi căn bản về chính trị - kinh tế - xã hội. Xã hội Việt Nam xuất hiện những giai tầng mới, đồng thời nảy sinh những mâu thuẫn mới về giai cấp và dân tộc với sự ra đời của giai cấp công nhân, sự xuất hiện của tầng lớp tiểu tư sản và giai cấp tư sản ở nước ta. Bên cạnh mâu thuẫn cơ bản giữa nông dân với địa chủ phong kiến, nảy sinh thêm cách mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam với tư bản Pháp, giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc Pháp. Phong trào yêu nước trong giai đoạn này cũng có bước phát triển mới.

Với sự xuất hiện của tầng lớp tiểu tư sản và mầm mống của giai cấp tư sản ở nước ta và trước sự ảnh hưởng của các cuộc vận động cải cách lớn ở Trung Quốc của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu phong trào yêu nước và phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, trong đó xuất hiện trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản dưới sự dẫn dắt của các sĩ phu yêu nước có tinh thần cải cách. Điển hình như các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân, Việt Nam Quang phục hội... với hai xu hướng cứu nước: khuynh hướng bạo động của Phan Bội Châu và khuynh hướng cải cách của Phan Chu Trinh. Tuy nhiên, những phong trào yêu nước của trào lưu này đều lần lượt thất bại. Trường Đông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa, phong trào chống thuế ở miền Trung bị đàn áp, phong trào Đông Du tan rã, phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ bị đàn áp, các thủ lĩnh như Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp, Nguyễn Hằng Chi, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Đặng Nghiêm Cẩn hoặc bị chém hoặc bị tù đày.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX nhuộm đỏ máu và nhiệt huyết hào hùng của tinh thần yêu nước của lớp lớp sĩ phu có tinh thần dân tộc. Dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước này đã nối tiếp nhau duy trì ngọn lửa cứu nước tiếp tục cháy trong lòng dân tộc. Cách mạng Việt Nam lúc này cần phải có con đường cứu nước mới.

Trước những yêu cầu và đòi hỏi của dân tộc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh xuất hiện và đã đáp ứng được những yêu cầu khẩn thiết đó. Người đã phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đó là: chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất, tinh thần tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, dũng cảm, cần cù, thông minh, sáng tạo; tiếp thu tinh hoa văn hoá phương Đông, phương Tây và chủ nghĩa Mác-Lênin để làm giàu văn hoá dân tộc. Cùng với năng lực hoạt động thực tiễn và trí tuệ mẫn tiệp, Hồ Chí Minh đã xây dựng thành hệ lý luận có giá trị và chỉ đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong toàn bộ di sản của Người, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc có nhiều quan điểm sáng tạo, đó là sự vận dụng học thuyết Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam trên cơ sở tiếp thu và đổi mới.




Chương 2
QUAN ĐIỂM SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ
CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

 

2.1. Quan điểm sáng tạo của Hồ Chí về vấn đề dân tộc

2.1.1. Nhận diện bản chất của chủ nghĩa thực dân

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một người yêu nước mẫu mực, một chiến sĩ cộng sản đã có nhiều cống hiến to lớn trong việc nghiên cứu vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc đồng thời là người có nhiều quan điểm mới mẻ  trong việc nghiên cứu bản chất và vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân.

Từ năm 1919 đến những năm 1925-1927, Nguyễn Ái Quốc đã có những bài báo, bài viết tập trung vạch trần bản chất và tội ác của chủ nghĩa thực dân, nêu rõ những thống khổ của người dân mất nước, phản ảnh những nguyện vọng khát khao được giải phóng và các cuộc phản kháng của các dân tộc thuộc địa. Từ tác phẩm Tâm địa thực dân (1919), Nền văn minh thượng đẳng, Tội ác của chủ nghĩa thực dân, Sự quái đản của công cuộc khai hoá (1921), Bình đẳng, Những kẻ đi khai hoá, Khai hoá giết người (1922), Vực thẳm thuộc địa, Chế độ thực dân (1923), Những cái tốt đẹp của nền văn minh Pháp (1924)... Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất phải kể đến đến tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), tác phẩm đã có ảnh hưởng sâu rộng và được đánh giá là tác phẩm đặc sắc, với cái nhìn cận cảnh về hình ảnh chủ nghĩa thực dân. Sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Nguyễn Ái Quốc ở những tác phẩm trên đã vượt hẳn những gì mà những nhà lý luận mác xít đề cập đến.

Trong bài viết Thăm một chiến sĩ Quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam, Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất của chủ nghĩa thực dân: “Thực dân Pháp là gì? Ồ, đó là những kẻ bất tài và thiển cận. Việc quan tâm đầu tiên của chúng là hình thành nhóm người thân thuộc. Sau đó, là chiếm đoạt và cướp bóc thế nào cho thật nhiều và thật nhanh... Thực dân Pháp đầu độc nhân dân chúng tôi. Chúng bắt mọi người phải uống rượu... Bọn thực dân Pháp đã lấy gạo xấu, rẻ tiền nấu rượu... Sau đó, người ta hạ lệnh cho các viên tỉnh trưởng cứ theo đầu người mà bắt buộc phải đi mua thứ rượu không ai uống” [14, 478].

Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Người đã đưa những tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương và nhiều dân tộc thuộc địa khác như Tuynidi, Angiêri, Marốc... ra trước công luận quốc tế. Người chỉ ra những tội ác dã man, tàn bạo của chúng:

- Chúng bóc lột người thuộc địa bằng hàng trăm thứ thuế, từ “thuế thân” đến “thuế máu”, khoác lên họ những danh hiệu tối cao “chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do” rồi ném họ vào những lò lửa chiến tranh trên chiến trường châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ nhất; để họ “lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế” [15, 23].

- Để nhồi nhét nền văn minh “Đại Pháp” cho người An Nam, chúng không từ một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất và những tội ác. Chúng đầu độc những người bản xứ bằng thuộc địa và rượu cồn, “cứ một nghìn làng thì có đến một nghìn năm trăm đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ vẻn vẹn có mười trường học” [15, 36].  Chúng thực hiện chính sách ngu dân, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa ưa chuộng nhất.

- Chúng đã vũ trang xâm lược đất nước ta, đàn áp đẫm máu các phong trào yêu nước, thực hiện chính sách khủng bố vô cùng tàn bạo: đốt sạch, phá sạch, giết sạch, không cần xét xử; chúng xóc em bé lên đầu mũi giáo, bêu đầu lâu người bị giết dọc các đường phố, đào mã người bị giết lấy hài cốt đổ xuống sông, dội nước sôi xuống người dân vô tội làm lột da hết. Sự độc ác đến mức một anh lính thuộc địa Pháp cũng phải kêu lên: “Trong thời kỳ tôi ở đây (Bắc Kỳ) không có tuần nào là tôi không thấy vài cái đầu rụng. Trong những cảnh ấy, tôi chỉ còn ghi nhớ được một điều là chúng ta còn độc ác, còn dã man hơn cả bọn cướp nhà nghề” [15, 63].

Để đập tan luận điệu “khai hoá văn minh” của báo chí tư sản đối với các thuộc địa, phên phán nhận thức sai lầm về các thuộc địa như “những vùng đất yên bình trên nắng, dưới cát với dừa xanh” của những người lao động chính quốc, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất bóc lột trắng trợn, bạo lực dã man của chủ nghĩa thực dân. Người đã khái quát: Lịch sử bất cứ cuộc xâm chiếm thuộc địa nào thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu của người bản xứ. Các thuộc địa là mảnh đất mầu mỡ cho bọn thực dân đế quốc đục khoét, là hiện thân của chế độ dã man, tàn bạo của bọn thực dân đối với triệu triệu người dân bản xứ. Trong tác phẩm Đông Dương và Thái Bình Dương, Người đã chỉ rõ: “Hiện nay, tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó” [14, 243]. Bản chất dã man, tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc còn được Người vạch ra: “Nó dùng những người vô sản da trắng đề chinh phục những người vô sản các thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác. Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các thuộc địa để thống trị những người vô sản thế giới” [14, 246].

Để vạch trần bản chất tàn bạo, dã man của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu tác phẩm Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa, Người nêu lên một luận điểm rất độc đáo, mới mẻ: “Chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết chết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” [14, 298]. Với hình ảnh “con đỉa hai vòi”, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ chủ nghĩa thực dân không chỉ là kẻ thù của các dân tộc thuộc địa mà còn là kẻ thù của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc. Cũng từ luận điểm mới này và quán triệt sâu sắc quan điểm của Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc, Người đã đấu tranh phê phán mạnh mẽ thái độ coi nhẹ vấn đề thuộc địa, không quan tâm đến cách mạng thuộc địa của những người cộng sản chính quốc. Người phê phán Đảng Cộng sản Pháp: “Là một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, tôi lấy làm tiếc phải nói rằng Đảng Cộng sản Pháp chúng tôi làm rất và rất ít cho các nước thuộc địa” [14, 278].

Với những cống hiến to lớn trong việc vạch trần bản chất, âm mưu của bọn đế quốc thực dân, nhà sử học Pháp Charles Fourniaux nhận định về Người: “Nguyễn Ái Quốc đã có đóng góp quan trọng vào việc hình thành truyền thống chống chủ nghĩa thực dân...”. “Vậy thì hẳn rằng: Nguyễn Ái Quốc phải được coi là một trong những người thầy của Đảng Cộng sản Pháp về những vấn đề thuộc địa” [3, 85-86].

Tóm lại, cùng với việc thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa và xuất bản báo Le Paria, đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc trở thành người chiến sĩ tiên phong trong phong trào lên án chủ nghĩa thực dân đế quốc và cũng là người đã thi hành bản án chôn vùi chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành con đường cách mạng của các dân tộc thuộc địa và mở ra thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, phải đến ngày 14/12/1960, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc mới chính thức ra bản Tuyên ngôn trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa và đến ngày 12/12/1970, Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, với không một phiếu chống nào đã trịnh trọng tuyên bố: Khẩn thiết chấm dứt một cách mau chóng và vô điều kiện chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức và mọi biểu hiện. Từ đây, có thể nói rằng với sự ra đời của Bản án chế độ thực dân Pháp đã chứng minh cho sự thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới, kết thúc thời kì đen tối trong lịch sử nhân loại, mở ra trang mới cho lịch sử nhân loại.

2.1.2. Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành độc lập

“Chủ nghĩa dân tộc” theo Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc phong kiến, tư sản hay của Quốc tế II mà là chủ nghĩa dân tộc chân chính, theo lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin gắn dân tộc với quốc tế, dân tộc với giai cấp, hướng tới triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng ở các nước thuộc địa “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”. Chủ nghĩa dân tộc ở Nguyễn Ái Quốc chính là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính. Đó là sản phẩm kết tinh của nhân dân Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, là động lực tinh thần vô giá trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập. Sáng tạo của chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã phân tích cấu trúc kinh tế, xã hội ở các nước thuộc địa và Đông Dương, từ đó khẳng định cuộc đấu tranh giai cấp ở đây không diễn ra quyết liệt như ở phương Tây nhưng tinh thần dân tộc chân chính ở các nước này diễn ra rất mạnh mẽ và quyết liệt. Vì vậy, Người lưu ý những người cộng sản phải biết nắm lấy ngọn cờ dân tộc để giải quyết vấn đề dân tộc trên lập trường của giai cấp vô sản.

Trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ gửi Quốc tế cộng sản, Người viết: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn giống như ở phương Tây, bởi vì xã hội Đông Dương, Ấn Độ hay Trung Quốc xét về mặt cấu trúc kinh tế không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời kì cận đại, và đấu tranh giai cấp không quyết liệt như ở đây”... “Những địa chủ hạng trung và hạng nhỏ và những kẻ mà ở đó được coi là địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ...” [14, 464-465].

“... Nếu nông nhân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn..., nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt... Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cải được” [14, 464]. Trái lại, giữa họ vẫn có một sự tương đồng lớn: dù là địa chủ hay nông dân, họ đều là người nô lệ mất nước. Từ đó, Người khẳng định: “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khoá, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917”  [14, 466]. Cũng ngay trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc nêu lên cương lĩnh hành động của Quốc tế cộng sản: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản... Giờ đây, người ta không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên những động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi..., nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế” [14, 467].

Từ vị thế của người nô lệ mất nước, từ truyền thống đấu tranh của dân tộc, Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò, sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc, coi đó là một động lực lớn mà những người cách mạng, những người cộng sản phải nắm lấy và phát huy, không để ngọn cờ dân tộc rơi vào tay của một giai cấp nào khác; đồng thời phải nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên lập trường giai cấp vô sản, kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa quốc tế để tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội.

Như vậy, khác với nhiều nhà cách mạng đương thời, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc; đồng thời, Người đã phát huy sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc gắn với các yếu tố của thời đại để thực hiện nhiệm vụ cách mạng vẻ vang là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.  

2.1.3. Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đã làm cho Người sáng tỏ về đường lối cứu nước - con đường cách mạng vô sản. Từ đây Nguyễn Ái Quốc đã có sự gắn bó thống nhất giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy mối quan hệ khăng khít giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản. Trong tác phẩm Cuộc kháng chiến, Người viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới” [14, 416]. Đến năm 1930, Người xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng (cách mạng dân tộc - dân chủ) và để đi tới xã hội cộng sản (cách mạng xã hội chủ nghĩa). Hai giai đoạn ấy không có bức tường ngăn cách, mà gắn bó chặt chẽ với nhau. Người cho rằng độc lập dân tộc là mục tiêu trước hết, là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Theo Người, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân có hai nhiệm vụ chiến lược: chống thực dân xâm lược và chống địa chủ phong kiến. Nhiệm vụ dân tộc và dân chủ quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên trên hết, trước hết, nhiệm vụ dân chủ cần thực hiện từng bước và phải phục tùng sự nghiệp giải phóng dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, để tạo cơ sở, tiền đề cho việc tiến lên chủ nghĩa xã hội, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải được thực hiện một cách triệt để, phải “đến nơi”. Đó là một nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn không lệ thuộc vào bất cứ lực lượng nào. Để tạo cơ sở, tiền đề cho việc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đối với Việt Nam, một đòi hỏi có ý nghĩa sống còn là độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đồng thời, để tiến lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi độc lập dân tộc phải thống nhất với tự do hạnh phúc của nhân dân vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “nếu nước được độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì”.

Trong mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Người xác định rằng chủ nghĩa xã hội là con đường bảo vệ và phát triển thành quả của độc lập dân tộc; sự đi lên chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện công bằng, dân chủ trong xã hội... Theo Người, chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội làm cho dân giàu, nước mạnh, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, các dân tộc trong nước bình đẳng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau... Về mặt phân phối sản phẩm lao động thì chủ nghĩa xã hội là ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, không làm thì không hưởng, những người già, đau yếu, tàn tật và trẻ em thì xã hội và cộng đồng có trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng. Trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chính trị và kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được quan tâm và ngày một nâng cao. Về mặt đối ngoại, chủ nghĩa xã hội là hòa bình, hữu nghị, làm bạn với tất cả các nước... Như vậy, chủ nghĩa xã hội với những đặc trưng đó không chỉ bảo vệ những thành quả của độc lập dân tộc mà cơ bản tạo nên sự phát triển mới vế chất. Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm cho một nền độc lập dân tộc chân chính, mới giải phóng các dân tộc một cách thực sự, hoàn toàn. Vì vậy, độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội như một quá trình thống nhất.

Tư tưởng độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Theo lôgíc của sự phát triển, hai mục tiêu ấy quan hệ chặt chẽ với nhau. Không thể đi đến mục tiêu cuối cùng nếu không thực hiện được mục tiêu trước mắt. Chỉ thực hiện được mục tiêu cuối cùng mới bảo vệ và phát triển được những thành quả của mục tiêu trước mắt. Vì vậy, nếu độc lập dân tộc tạo cơ sở, tiền đề để đi lên chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa xã hội là con đường tốt nhất để giữ vững và phát triển lên một tầm cao mới - thành quả của độc lập dân tộc.

Quan điểm của Người về sự gắn bó thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tổng hợp những quan điểm chiến lược có ý nghĩa chỉ đạo lớn về chính trị và lý luận, về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Đây là quan điểm sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh và là một đóng góp quan trọng về lý luận vào kho tàng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đại ngày nay.

2.1.4. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế

Trong khi chống lại luận điệu vu cáo những người cộng sản muốn xóa bỏ tổ quốc và dân tộc của giai cấp tư sản, Mác và Ăng ghen đã chỉ ra mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, phạm vi của vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản. Các ông cũng nhấn mạnh rằng: Chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản mới giải quyết được đúng đắn vấn đề dân tộc. Vì vậy, trong Tuyên ngôn của Đảng Công sản, Mác kêu gọi: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, tự xây dựng thành giai cấp dân tộc, tự mình trở thành dân tộc. Các ông tuyên bố: “Hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” [7, 539].

Như vậy, có thể thấy rằng ở Mác và Ăngghen, các ông đã giải quyết vấn đề giai cấp, từ đó làm tiền đề cần thiết để đi đến giải quyết vấn đề dân tộc.

Khắc phục những hạn chế của Mác-Ăngghen và bổ sung bằng những “cơ sở lịch sử”, Lênin đã phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành hệ thống lý luận, được xem là học thuyết về cách mạng thuộc địa. Lênin cho rằng: cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc sẽ không thể giành được thắng lợi nếu nó không biết liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Với những cống hiến của mình, Lênin được đánh giá là người đã đặt nền móng cho thời đại mới - thời đại cách mạng ở các nước thuộc địa.

Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và tìm ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, đồng thời Người đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Khác với Mác, Ăngghen và Lênin, theo Hồ Chí Minh, xét trong điều kiện và hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam không phải giải quyết vấn đề giai cấp rồi mới giải quyết vấn đề dân tộc như những nước tư bản phát triển ở phương Tây. Ngược lại, theo Người, chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp và tạo tiền đề để giải phóng giai cấp. Sở dĩ Người luận giải như vậy là vì ở Việt Nam cùng với sự tồn tại của mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nội bộ dân tộc, nổi lên mâu thuẫn dân tộc và đấu tranh dân tộc giữa toàn dân tộc với chủ nghĩa đế quốc thực dân đế quốc và bè lũ tay sai. Do đó, theo Người: Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước và đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh công nông và trí thức là một chiến lược cách mạng, là lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam.

Trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ (1924), Người kết luận: “Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó... thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam” [14, 416]. Với kết luận này cho thấy Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng nhuần nhuyễn lý luận Mác-Lênin vào việc giải quyết nhiệm vụ cụ thể của các mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, phù hợp với đặc điểm lịch sử - xã hội ở Việt Nam. Người đã phân tích đặc điểm lịch sử - xã hội trong thời đại Mác - Ăngghen đã đưa đến mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản; đồng thời, Người cũng chỉ ra vào giai đoạn này mặc dù hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa tư bản được mở rộng nhưng các cuộc đấu giành độc lập chưa phát triển mạnh, trung tâm cách mạng thế giới vẫn nằm ở châu Âu, vận mệnh loài người vẫn được coi là phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước tư bản phát triển. Do vậy, tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa cũng được nhìn nhận trong sự phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc.

Từ sự phân tích đặc điểm lịch sử - xã ở phương Tây, Người nhận định: vấn đề đặt ra trước mắt cho các nước thuộc địa phương Đông không phải là làm ngay một cuộc cách mạng vô sản, mà trước hết là phải đấu tranh giành độc lập dân tộc cho dân tộc, có độc lập dân tộc mới có địa bàn để tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hơn nữa, yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc không cho phép trông chờ, ỷ lại vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở châu Âu để được trả lại nền độc lập cho các dân tộc thuộc địa. Cũng tư đó, Nguyễn Ái Quốc tiến hành đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái của một số Đảng Cộng sản Tây Âu trong cách nhìn nhận, đánh giá vai trò, vị trí cũng như tương lai của cách mạng thuộc địa và đi đến luận điểm: Các dân tộc thuộc địa phải dựa vào sức mạnh của chính mình, đồng thời biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động trên thế giới để trước hết đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc, rồi từ thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp cách mạng vô sản thế giới.

Xuất phát từ thực tiễn đất nước, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận thức đúng đắn học thuyết Mác-Lênin về vấn đề dân tộc, về mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc. Người đã thực hiện được sự kết hợp đúng đắn giữa dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế. Qua đó, Người đã làm phong phú lý luận Mác-Lênin trong kho tàng lý luận nhân loại.

2.2. Quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc

2.2.1. Cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi ảnh hưởng to lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Với sự phát triển mạnh mẽ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn thế giới, các yêu cầu về thị trường và phân chia thuộc địa là mâu thuẫn chủ yếu đã làm cho tình hình quốc tế ngày càng gay gắt. Một mặt, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc trẻ và các nước đế quốc già về vấn đề thị trường và thuộc địa, sự tranh giành thuộc địa diễn ra ngày càng gay gắt. Mặt khác, các nước đế quốc luôn tìm mọi cách liên kết với nhau để đàn áp phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa.

Trong khi đó, tình hình trong nước những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vô cùng đen tối, nhân dân ta rên siết dưới ách thống trị của hai tầng áp bức thực dân phong kiến. Các phong trào yêu nước chống Pháp do các sĩ phu lãnh đạo như: Phong trào Cần Vương, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (1885-1896), Phong trào Đông Du (1904-1908) do Phan Bội Châu khởi xướng, Phong trào Duy Tân do Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp… lãnh đạo (1906-1908), Phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền lãnh đạo… đều lần lượt thất bại. Sự thất bại của các phong trào cách mạng đó do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau nhưng suy cho cùng là do thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn, thiếu tổ chức cách mạng có bản lĩnh, lập trường cách mạng… Chứng kiến sự thất bại của các phong trào cách mạng, sự thống khổ của nhân dân, Người nhận thấy không thể giành độc lập dân tộc nếu đi theo khuynh hướng phong kiến hoặc dân chủ tư sản.

Trước vận mệnh dân tộc lâm nguy và không cam chịu cảnh đời nô lệ, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Người đã quyết định sang phương Tây để tìm hiểu ngọn nguồn của sự thống khổ, nơi sinh ra ánh sáng “tự do, bình đẳng, bác ái” và cũng là nơi gây ra vô vàn áp bức, khổ đau cho dân tộc ta. Người đã không sang phương Đông truyền thống như những nhà cách mạng đương thời, điều này cho thấy ở Nguyễn Ái Quốc có một nhãn quan chính trị nhạy cảm, một tư duy chính trị sắc sảo khác với các bậc tiền bối.

Trên bước đường khảo cứu con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Người đã qua nhiều châu lục, tiếp xúc với nhiều hạng người và với phương pháp tư duy sắc sảo kết hợp quan sát xã hội và hoạt động thực tiễn của mình, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra những kết luận: “Dù màu da có khác nhau, trên thế giới chỉ có hai hạng người: những người bị bóc lột và những kẻ đi bóc lột”, “nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù”. Do đó, trong cuộc đấu tranh giải phóng ách áp bức của chủ nghĩa thực dân, nhân dân các dân tộc thuộc địa phải đoàn kết lại, phối hợp hành động mới có thể giành được thắng lợi. Phát hiện của Nguyễn Ái Quốc về chủ nghĩa thực dân qua hình ảnh “con đĩa hai vòi”, một vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa là một quan điểm mới, thể hiện sự sắc sảo trong việc đánh giá bản chất của đế quốc thực dân. Người cho rằng muốn đánh thắng chủ nghĩa đế quốc cần phải kết hợp cắt bỏ hai cái vòi đó đi, tức là phải kết hợp các mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Đặc biệt đối với phong trào cách mạng vô sản ở đế quốc, “vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các nước thuộc địa” [14, 273], vậy nên, phải xem cách mạng thuộc địa như là “một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”.

Nguyễn Ái Quốc đã khảo sát nhiều mô hình nhà nước, tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ. Người đã phát hiện ra rằng sau những lời hoa mỹ “tự do, bình đẳng, bác ái”, sau tuyên ngôn về “quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của cách mạng Pháp và Mỹ là sự bất bình đẳng, nghèo đói, bất công và đặc biệt là nạn phân biệt chủng tộc. Người kết luận rằng đó là “những cuộc cách mạng không đến nơi” vì ở đó chính quyền vẫn nằm trong tay một số ít người, “cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai” [15, 270].

Người đã dày công nghiên cứu cách mạng tháng Mười Nga do V.I. Lênin lãnh đạo và Người đã rút ra kết luận quan trọng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là thành công đến nơi… Cách mạng Nga đã dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng công nông làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”. Bài học rút ra từ Cách mạng tháng Mười Nga chính là những luận điểm thể hiện bước chuyển biến quyết định trong tư duy chính trị của Hồ Chí Minh về hướng đi của con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

2.2.2. Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp của toàn dân trên cơ sở liên minh công nông làm nòng cốt

Kế thừa quan điểm của thuyết Mác-Lênin cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, con người là sản phẩm của lịch sử, là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, đồng thời kết hợp với nghiên cứu điều kiện, hoàn cảnh của các dân tộc thuộc địa của thực dân Pháp trên toàn thế giới, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Trong tất cả các thuộc địa của Pháp, nạn nghèo đói đều gia tăng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi” [15, 289]. Riêng đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam - một dân tộc thuộc địa nửa phong kiến với hơn 95% dân số là nông dân. Đời sống của nhân dân dưới chế độ cai trị hà khắc của chủ nghĩa thực dân đã bần cùng hóa, ý thức phản kháng, sẵn sàng tham gia đấu tranh cách mạng được nung nấu từ thực tiễn đó. Ở khía cạnh khác, dưới công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp Việt Nam có sự thay đổi, xã hội Việt Nam phân hóa rõ rệt, giai cấp công nhân mới ra đời, vừa yếu lại vừa thiếu, lực lượng cách mạng chủ yếu chỉ có thể là nông dân. Vì vậy, khi xác định động lực của cách mạng, Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở của sự nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đi đến kết luận rằng: bộ phận trung tâm trong lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc là công nhân, nông dân và khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.  

Đây là một phát hiện mới của Hồ Chí Minh về vai trò, sứ mệnh và khả năng của giai cấp nông dân các nước thuộc địa nói chung và giai cấp nông dân Việt Nam nói riêng trong việc tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Người sớm nhìn thấy sức mạnh tiềm tàng của giai cấp nông dân Việt Nam, đó là lực lượng rất to lớn. Trong Báo cáo trước Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khóa I, kì họp thứ ba, Người viết: “Lực lượng của chúng ta là hàng chục triệu đồng bào nông dân lao động sẵn sàng chờ Chính phủ và Đảng tổ chức và lãnh đạo, để hăng hái vươn mình dậy đánh tan ách nô lệ của phong kiến và thực dân. Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo thì lực lượng ấy sẽ làm xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy đánh tan...”. Mặc dù Hồ Chí Minh rất đánh giá cao vị trí và vai trò của giai cấp nông dân, nhưng từ sự nắm vững đặc điểm và tính chất của các giai cấp trong xã hội Việt Nam đương thời, Người vẫn luôn khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, đồng thời, khẳng định vai trò cách mạng của Đảng tiên phong là phải tập hợp, lãnh đạo xây dựng khối liên minh công nông làm nòng cốt cho mặt trận dân tộc thống nhất.

Cùng với việc xây dựng khối liên minh công nông “là gốc cách mệnh”, Người vận dụng quan điểm của Lênin “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” để lôi kéo, tập hợp các tầng lớp nhân dân trong xã hội Việt Nam vào trong một mặt trận dân tộc thống nhất, nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do. Trong Sơ lược vắn tắt của Đảng, Người viết:

“1. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng.

2. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến.

3. Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia.

4. Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân việt... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp...” [16, 3].

Người cũng lưu ý rằng: “Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp” [16, 3].

Với quan điểm như trên, trong những năm 20 và 30 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã bị chính những người trong Quốc tế cộng sản theo tư tưởng “tả khuynh” hiểu nhầm, bài xích. Họ cho rằng, Nguyễn Ái Quốc quá xem trọng đến vấn đề dân tộc, phản đế mà coi nhẹ vấn đề đấu tranh giai cấp. Đây là thời kì Nguyễn Ái Quốc gặp nhiều khó khăn nhất từ Quốc tế cộng sản và những chiến sĩ cách mạng cùng thời. Có thể khẳng định rằng đó không phải là hạn chế của Hồ Chí Minh mà là sự phát triển sáng tạo của Người về học thuyết Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam. Cần lưu ý rằng, xã hội Việt Nam đương thời có nhiều mâu thuẫn nhưng mẫu thuẫn cơ bản nhất là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp nên chủ trương tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân Việt Nam đang mất nước, đang bị làm nô lệ vào mặt trận dân tộc thống nhất để đấu tranh giành độc lập tự do là việc làm đúng đắn. Ở khía cạnh khác, cũng có thể thấy rằng, khi chủ trương đoàn kết, tập hợp lực lượng chống đế quốc, Nguyễn Ái Quốc vẫn luân thấm nhuần quan điểm giai cấp. Người khẳng định: “Công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ cũng bị tư sản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; ba hạng người ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi” [15, 266].

2.1.3. Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản thế giới

       Thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trước khi nổ ra cách mạng tháng Mười chưa đề cập đến vai trò, vị trí của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Ngay bản thân C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin vẫn chưa có điều kiện để luận bàn về vấn đề quan trọng này, các ông chỉ tập trung, nhấn mạnh đến vấn đề giai cấp. Các nhà cách mạng hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn này luôn luôn cho rằng thắng lợi của cách mạng ở các nước thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc. Khi Quốc tế cộng sản được thành lập (1919), trong Tuyên ngôn của Quốc tế III ghi rõ: “Công nhân và nông dân không những ở An Nam, Angiêri, Bengan mà cả ở Ba Tư hay Ácmênia chỉ có thể giành được độc lập khi mà công nhân các nước Anh và Pháp lật đổ được Lôiit Gioócgiơ và Clêmăngxô, giành chính quyền nhà nước về tay mình”. Quan điểm này tiếp tục tồn tại và ảnh hưởng kéo dài đến Đại hội VI Quốc tế cộng sản (1928). Trong Những luận cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa (01/9/1928), viết: “Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các tư bản tiên tiến”.

Với chủ trương đó, Quốc tế cộng sản đã không thể phát huy được phong trào đấu tranh cách mạng ở các nước tư bản nói chung và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa nói riêng. Không tán thành với chủ trương đó, tại Đại hội V Quốc tế cộng sản  (6/1924), Nguyễn Ái Quốc đã trình bày quan điểm của mình: “Tôi thấy rằng hình như, các đồng chí chưa thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa...nọc độc và sức sống của bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các nước thuộc địa hơn là chính quốc” [14, 273-274]. Người chỉ trích, đã có nhiều người “...lại xem thường các thuộc địa trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí” [14, 274]. Người đã phát hiện ra “thuộc địa là mắt xích yếu trong hệ thống của chủ nghĩa đế quốc. Trong khi đó, nhân dân thuộc địa luôn chứa đựng tinh thần yêu nước, căm thù bọn xâm lược và sẽ vùng dậy khi có thời cơ. Vì vậy, ngay từ năm 1924, Người đã sớm cho rằng: “Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước”, và “trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” [14, 36].

Đây thực sự là một luận điểm mới mẻ và sáng tạo của Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới và là sự bổ sung kịp thời vào lý luận Mác-Lênin. Đặc biệt, đối với cách mạng Việt Nam, luận điểm này của Hồ Chí Minh đã được Người và Đảng ta vận dụng một cách chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong tiến trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc. Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam là một minh chứng khẳng định luận điểm của Hồ Chí Minh hoàn toàn đúng đắn. Và nó trở thành một lý luận cách mạng, động lực quan trọng thúc đẩy các dân tộc thuộc địa trên thế giới chủ động thực hiện cách cuộc cách mạng giải phóng bằng sự nổ lực của chính mình.

       2.1.4. Cách mạng giải phóng dân tộc được thực hiện bằng con đường cách mạng bạo lực, kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang nhân dân

Theo học thuyết Mác-Lênin, có nhiều phương thức giành chính quyền cách mạng từ giai cấp thống trị, tuy nhiên kẻ thù của cách mạng không bao giờ trao chính quyền cho nhân dân một cách tự nguyện, tự giác. Vì vậy, cách mạng muốn thắng lợi phải sử dụng bạo lực của quần chúng nhân dân.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX đã chứng minh sự sai lầm của các hình thức đấu tranh cách mạng theo khuynh hướng phong kiến hoặc dân chủ tư sản mặc dù những phong trào này đều là yêu nước. Các phong trào đấu tranh chống Pháp do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo như phong trào Cần Vương đã phản ảnh sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến trước một đế quốc thực dân Pháp hung bạo; hay phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo chủ trương vũ trang khởi nghĩa, giành độc lập dân tộc, sau đó tiến hành công cuộc cải cách dân chủ nhưng lại bằng phương pháp xuất dương cầu viện. Tiếp những sai lầm đó, phong trào Duy Tân do cụ Phan Chu Trinh đưa ra phương pháp đấu tranh cải lương, chủ yếu là đấu tranh hợp pháp, nhưng đã thất bại trước nanh vuốt của đế quốc thực dân. Một số sĩ phu sau đó chủ trương dựa vào Pháp để tăng tiềm lực cho đất nước theo phương châm “Pháp Việt đề huề”, đấu tranh bằng phương pháp hoà bình giành độc lập dân tộc. Có thể nói rằng đó chỉ là những phương pháp, giải pháp đấu tranh giành độc lập mang tính ảo tưởng vì bản chất của thực dân, đế quốc là xâm chiếm thuộc địa, là nô dịch và lợi nhuận nên chúng không dễ dàng từ bỏ thị trường, thuộc địa của chúng.

Khắc phục những hạn chế mang tính lịch sử đó, Hồ Chí Minh cho rằng không thể giành chính quyền theo khuynh hướng phong kiến hay dân chủ tư sản. Đầu năm 1924, trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ Người đã nhận định về khả năng của một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Theo Hồ Chí Minh điều kiện để cuộc khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi phải: Một là, cuộc khởi nghĩa vũ trang phải có tính chất của một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải là một cuộc nổi loạn... phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố, theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu. Hai là, phải được nước Nga ủng hộ. Ba là, phải trùng hợp với cách mạng vô sản Pháp. Bốn là, phải gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản thế giới.

Tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh chứa đựng những nét độc đáo, đặc sắc, phản ảnh đúng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đó được thể hiện trong việc kết hợp xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng làm điểm tựa cho việc phát triển lực lượng vũ trang, gắn với hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đi từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, phù hợp với từng nơi, từng thời kỳ cụ thể. Đặc biệt, trong thời đại cách mạng vô sản, Người cho rằng cuộc vũ trang khởi nghĩa đó cần thiết phải có sự liên kết, ủng hộ của cách mạng vô sản thế giới.

Tiếp thu học thuyết Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, đồng thời chỉ đạo thực hiện linh hoạt, hiệu quả quan điểm cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực cách mạng, kết hợp với khởi nghĩa vũ trang để xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong đó, Người cũng nhấn mạnh đến việc xây dựng, tập hợp lực lượng, chọn thời cơ để giành chính quyền cách mạng.

Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng bạo lực, kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang nhân dân là một quan điểm sáng tạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Người cũng đã cùng với Đảng đề ra và giải quyết đúng đắn nhiều vấn đề về chiến lược và sách lược, dẫn đến thắng lợi lịch sử của cách mạng Tháng Tám.

2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay

Công cuộc đổi mới đất nước được Đảng ta khởi xướng từ Đại hội Đảng VI đến nay đã đạt được những thành tựu quan trọng, thế và lực của đất nước ngày càng được củng cố và vững mạnh. Tuy nhiên, sự nghiệp đổi mới cũng đang đứng trước những thời cơ và thách thức to lớn cần phải chủ động giải quyết và sáng suốt vượt qua. Để đảm bảo thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu những giá trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh một cách chủ động, sáng tạonhằm tạo ra những nguồn lực mới, đưa sự nghiệp đổi mới đến thắng lợi cuối cùng.

Nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:

2.3.1. Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc

Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt thắt chặt khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Vì vậy, trong công cuộc đổi mới chúng ta cần phải khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc.

 Con người Việt Nam từ những ngày đầu lập nước cho đến những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh, mặc dù hy sinh biết bao xương máu tuy nhiên truyền thống yêu nước không bao giờ phai nhạt, tinh thần cố kết cộng đồng, ý chí kiên cường, bất khuất luôn được phát huy và phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta”. Nhiệm vụ của chúng ta là phải ra sức phát triển tinh thần yêu nước ấy, làm cho nó được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến. Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước ấy đã được phát huy cao độ, biến thành chủ nghĩa anh hùng đưa đến chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ lẩy lừng năm châu, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh đó, trong công cuộc đổi mới, chúng ta cần xác định và phát huy tối đa các nguồn lực của đất nước, đặc biệt là nguồn nội lực và nhân tố con người. Phải phát huy đến mức cao nhất các giá trị truyền thống dân tộc, biến chúng trở thành nguồn nội lực vô tận để đưa đất nước vượt qua mọi nguy cơ, thử thách, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

2.3.2. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Kiên định tư tưởng đó, cách mạng Việt Nam đã vững bước tiến lên, giành được những thắng lợi lịch sử có tầm thời đại. Trong báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, đã nhấn mạnh: “Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Thế giới ngày nay có nhiều thay đổi, song cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn đang diễn ra gay gắt. Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng thế giới, cục diện thế giới có nhiều biến đổi, niềm tin vào chủ nghĩa xã hội lung lay, tuy nhiên mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa với bản chất tốt đẹp của nó vẫn được nhiều đất nước lựa chọn, định hướng phát triển như các nước Mỹ La tinh.

Bên cạnh đó, các thế lực đế quốc, thù địch phản cách mạng khai thác những mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc nhằm kích động sự thù hằn giữa các dân tộc, đẩy các dân tộc vào những tranh chấp, xung đột về biên giới, lãnh thổ và quyền lợi quốc gia. Đối với Việt Nam, bằng chiêu bài “diễn biến hoà bình”, các lực lượng phản động toan tính thực hiện những mưu đồ thâm độc nhằm lật đổ nhà nước, lật đổ chế độ, xoá bỏ vai trò quản lý của Nhà nước... Vì vậy, cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia vẫn là nhiệm vụ phải luôn được coi trọng. Ngọn cờ độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ cách mạng trước đã trao chúng ta phải có nhiệm vụ hiện thực hoá sự nghiệp cách mạng đó. Hơn bao giờ hết, phải chú trọng giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa để chủ nghĩa yêu nước và lý tưởng xã hội chủ nghĩa luôn là động lực, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam trong sự nghiệp đổi mới.

2.3.3. Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp

Vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm. Người cũng rất chú trọng chủ nghĩa yêu nước và yêu cầu những người cách mạng phải biết nắm lấy sức mạnh đó để thực hiện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mặc dù rất coi trọng vấn đề dân tộc nhưng Người cũng luôn đứng trên lập trường giai cấp để nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc.

Người luôn khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân trong tiến trình từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người chủ trương đoàn kết rộng rãi mọi giai tầng trong xã hội để tạo nên sức mạnh tổng hợp, tuy nhiên đoàn kết phải dựa trên nền tảng liên minh công nông và trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đấu tranh giành và giữ chính quyền, Người cho rằng cần phải sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù, phải biết gắn mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội... Đó là những quan điểm có tính nguyên tắc, bất biến của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà chúng ta cần vận dụng, quán triệt trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Thực tiễn cách mạng thế giới đã từng diễn ra nhiều khuynh hướng khác nhau, có lúc diễn ra khuynh hướng chỉ nhấn mạnh đến quan điểm giai cấp, coi nhẹ vấn đề dân tộc và ngược lại. Hai khuynh hướng này tất yếu đều dẫn đến những kết cục không có lợi cho phong trào cách mạng thế giới. Nếu trong xã hội có giai cấp, còn đấu tranh giai cấp mà bỏ rơi vấn đề giai cấp, nhấn mạnh đến vấn đề dân tộc sẽ làm suy yếu phong trào cách mang thế giới, dẫn đến sự tan ra của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Hoặc ngược lại, nếu chỉ nhấn mạnh đến lợi ích dân tộc, từ bỏ vấn đề giai cấp, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế chân chính sẽ dân đến sự bùng phát chủ nghĩa sô vanh, để cho các thế lực lợi dụng kích động, làm mất ổn định tình hình chính trị - kinh tế - xã hội ở các quốc gia, vùng lãnh thổ, làm cho các cuộc chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ... diễn ra liên miên.

Đối với Việt Nam, trong công cuộc đổi mới, quan điểm xem xét vấn đề dân tộc tách rời vấn đề giai cấp cũng được bộc lộ dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Điều quan trọng hơn cả, chúng ta cần khắc phục những quan điểm sơ cứng, giáo điều trong việc nhìn nhận vấn đề giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Phải thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vì mục tiêu đó vừa đảm bảo tính giai cấp, vừa mang tính dân tộc sâu sắc.

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, đi đôi với việc tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong toàn Đảng, toàn dân ta, lấy đó làm định hướng cho việc nhận thức và giải quyết các vấn đề của dân tộc và thời đại ngày nay.

2.3.4. Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc anh em và các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

Nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là phải tiếp tục giương cao ngọn cờ đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chi Minh, phải ra sức phấn đấu để tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng; lấy mục tiêu độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để nối kết các thành phần giai cấp trong dân tộc; đồng thời, phải tôn trọng những quan điểm khác nhau nhưng không trái và đi ngược lại lợi ích dân tộc.

Trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phải huy động được sức người, sức của của đồng bào ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài góp sức cho sự thành công của công cuộc đổi mới. Phải chăm lo giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam vi đại đoàn kết các dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam là một nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Đảng ta khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”.

Ngày nay, mặc dù đất nước đã hòa bình thống nhất, tình hình kinh tế xã hội đi vào thời kì ổn định, tuy nhiên các thế lực thù địch vẫn tăng cường khai thác, lợi dụng những vấn đề về dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước... Trước nguy cơ đó, chúng ta phải thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đề ra. Phải xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, xóa đói giảm nghèo; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ địa cách mạng và kháng chiến; tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số; chống kì thị chia rẻ dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc [11, 127-128].

Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 70 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đã giương cao ngọn cờ đoàn kết, đã khơi dậy và phát huy được tiềm năng cách mạng của toàn dân tộc, đã đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước đến thắng lợi vẻ vang. 

 


C. KẾT LUẬN

Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà lý luận thiên tài, người thầy của cách mạng Việt Nam. Người đã nêu một tấm gương sáng trong việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo. Tính khoa học, cách mạng và sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc nói riêng đã được lịch sử kiểm chứng. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, tư tưởng của Người ngày càng chứng tỏ được giá trị, sức sống mãnh liệt và trường tồn trước những yêu cầu của thực tiễn cách mạng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc chứa đựng trong đó những quan điểm sáng tạo, những giá trị lý luận và thực tiễn mang tính thời đại. Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta trong sự kết hợp biện chứng vấn đề giai cấp, vấn đề dân tộc và vấn đề nhân loại. Đồng thời, chỉ rõ cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn chặt với sự nghiệp giải phóng giai cấp. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam... Những quan điểm sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc tiếp tục soi sáng quá trình nhận thức và giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người giúp chúng ta nhận thức và hành động đúng trong việc đề ra các mục tiêu chiến lược của cách mạng; huy động tối đa nguồn nội lực của nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trước những khó khăn thử thách trong công cuộc đổi mới đất nước.

Ngày nay, khi sự nghiệp đổi mới ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, những biến chuyển trên thế giới ngày càng lớn, những vấn đề mới đặt ra trong đời sống xã hội ngày càng nhiều, đòi hỏi phải làm sáng tỏ, thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế cuộc sống trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong công tác chính trị, tư tưởng, lý luận của toàn Đảng, toàn dân ta vì tư tưởng Hồ Chí Minh là tinh hoa của dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào của Đảng và nhân dân ta. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân càng vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ đổi mới.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1].     Huỳnh Công Bá, Lịch sử Việt Nam, Nxb Thuận Hoá, Huế, 2004.

[2].     PGS. TS Nguyễn Khánh Bật (chủ biên), Những bài giảng về môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Đại học Sư phạm

[3].     Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,

[4].     TS. Đinh Xuân Lý (Chủ biên), Một số chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.

[5].     C. Mác - Ph. Ănggen, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.

[6].     C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4.

[7].     C. Mác và Ph. Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I.

[8].     GS. Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, 2005.

[9].     Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại (1917-1995), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.

[10].  Danh nhân Hồ Chí Minh, Nxb Lao động, Hà Nội, 2000.

[11].  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

[12].  Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.

[13].  Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.

[14].  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1.

[15].  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2.

[16].  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 3.

[17].  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12

[18].  Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

[19].  Tư tưởng Hồ Chí Minh (Tài liệu phục vụ dạy và học Chương trình các môn Lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng), Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội 2008.

[20].  Triết học (quyển 2), Nxb Chính trịu quốc gia, Hà Nội, 1993.

[21].  Triết học (quyển 3), Nxb Chính trịu quốc gia, Hà Nội, 1993.

[22].  V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập I

 

Nguyên Quang
In trang          (Cập nhật: 01:00:38-22/04/2010)
---------------------------------------------------------------------------------------
Tập thể Khoa GDCT và các cựu sinh viên chúc mừng thầy cô nhân ngày 20/11
Nằm trong chuỗi các hoạt động hướng tới kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Sáng ngày 20/11, tập thể cán bộ, viên chức Khoa GDCT và các cựu sinh viên Khoa GDCT đã đến thăm và tặng hoa chúc mừng các thầy cô nguyên là cán bộ giảng dạy tại Khoa.
Công đoàn khoa GDCT tiến hành Đại hội nhiệm kỳ 2013 - 2017
Nhằm đánh giá và tống kết lại những hoạt động của Công đoàn Khoa trong nhiệm kỳ qua và đề ra phương hướng cho nhiệm kỳ tới, sáng ngày 20/11 tại Phòng đa năng, Trường ĐHSP Huế, Công đoàn Khoa GDCT đã tiến hành Đại hội.
Chiến thắng vang dội của Khoa GDCT trong cuộc thi tiếng hát SV năm 1&2
Hướng tới chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Trong đêm chung khảo Cuộc thi tiếng hát sinh viên năm 1&2 năm 2013,đội thi của Sinh viên Khoa GDCT đã giành được ngôi vị quán quân.
LCĐ Khoa GDCT đạt giải nhì Hội thi Cán bộ Đoàn cơ sở giỏi năm 2013
Ngày 31 tháng 3 năm 2013, Liên Chi đoàn Khoa Giáo dục Chính trị đã tham gia và đạt giải Nhì toàn đoàn Hội thi Cán bộ Đoàn cơ sở giỏi Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế.
Giao lưu văn nghệ ''Âm vang Trường Sa''
Tối ngày 26 tháng 03 năm 2013, Khoa Giáo dục Chính trị đã tổ chức đêm sinh hoạt chính trị, giao lưu văn nghệ và gặp mặt nhân vật lịch sử với chủ đề "Âm vang Trường Sa".
Khoa GDCT tổ chức tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh
Chiều ngày 15 tháng 3, Khoa GDCT đã tổ chức cho đoàn viên sinh viên tham quan, học tập tại Bảo tàng Hồ Chí Minh - Thừa Thiên Huế.
Khoa Giáo dục Chính trị tổ chức trao đổi kinh nghiệm Kiến tập và Thực tập sư phạm cho sinh viên năm 3,4
Chiều ngày 06/01/2013, Khoa Giáo dục Chính trị đã tổ chức trao đổi kinh nghiệm Kiến tập và Thực tập sư phạm cho sinh viên năm 3,4.
Xuân hội ngộ - Chương trình giao lưu với Khoa GDCT - ĐHSP Hà Nội
Tối ngày 03/01/2013, Liên Chi đoàn Khoa GDCT Trường ĐHSP Huế đã tổ chức chương trình giao lưu Xuân Hội ngộ với đoàn viên sinh viên Khoa GDCT - ĐHSP Hà Nội nhân chuyến đoàn thực tế chính trị xã hội ở Huế.
Sinh hoạt chính trị Học kỳ 1 năm học 2012-2013
Tối ngày 03 tháng 12 năm 2012, Khoa Giáo dục Chính trị tổ chức buổi Sinh hoạt chính trị học kỳ 1 năm học 2012-2013.
LCĐ Khoa GDCT tổ chức 37 năm Quốc khánh nước CHDCND Lào
Tối ngày 02/12/2012, Liên Chi đoàn Khoa GDCT tổ chức Lễ Mittinh kỷ niệm 37 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (02/12/1975 - 02/12/2012).
Sinh viên GDCT đạt giải Nhì Hội thi Tiếng hát sinh viên năm 1&2 - ĐHSP Huế 2012
Tối ngày 17 tháng 11 năm 2012, sinh viên Khoa Giáo dục Chính trị tham gia chung kết Hội thi Tiếng hát sinh viên năm thứ 1&2 do Trường ĐHSP Huế tổ chức.
LCĐ Khoa GDCT tổ chức Hội nghị cán bộ Đoàn - Hội chủ chốt năm 2012
Sáng ngày 11 tháng 11 năm 2012, Liên Chi Đoàn phối hợp với Liên Chi hội Khoa GDCT tổ chức Hội nghị cán bộ Đoàn - Hội chủ chốt năm 2012.
Khoa GDCT tổ chức Hội nghị trao đổi kinh nghiệm học tập, nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên năm 1&2
Sáng ngày 11 tháng 11 năm 2012, Khoa GDCT đã tổ chức Hội nghị trao đổi kinh nghiệm học tập và nghiên cứu khoa học theo học chế tín chỉ dành cho sinh viên năm 1&2.
Sinh viên Khoa GDCT tham gia vòng sơ khảo Hội thi ''Tiếng hát sinh viên năm 1&2'' năm 2012
Tối ngày 11 tháng 11 năm 2012, đoàn viên sinh viên Khoa Giáo dục Chính trị đã tham gia Hội thi "Tiếng hát sinh viên năm 1&2" năm 2012 do Đoàn trường ĐHSP Huế tổ chức.
Khoa GDCT tổ chức Lễ Kết nạp đảng viên mới
Chiều ngày 14 tháng 11 năm 2012, Chi bộ Khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Sư phạm Huế đã tổ chức Lễ Kết nạp đảng viên mới cho 04 quần chúng ưu tú.
Các tin đã đưa
Tập thể Khoa GDCT và các cựu sinh viên chúc mừng thầy cô nhân ngày 20/11 (04/12/2013)
Công đoàn khoa GDCT tiến hành Đại hội nhiệm kỳ 2013 - 2017 (04/12/2013)
Chiến thắng vang dội của Khoa GDCT trong cuộc thi tiếng hát SV năm 1&2 (04/12/2013)
LCĐ Khoa GDCT đạt giải nhì Hội thi Cán bộ Đoàn cơ sở giỏi năm 2013 (01/04/2013)
Giao lưu văn nghệ ''Âm vang Trường Sa'' (28/03/2013)
Khoa GDCT tổ chức tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh (15/03/2013)
Khoa Giáo dục Chính trị tổ chức trao đổi kinh nghiệm Kiến tập và Thực tập sư phạm cho sinh viên năm 3,4 (05/03/2013)
Xuân hội ngộ - Chương trình giao lưu với Khoa GDCT - ĐHSP Hà Nội (05/03/2013)
Sinh hoạt chính trị Học kỳ 1 năm học 2012-2013 (17/12/2012)
LCĐ Khoa GDCT tổ chức 37 năm Quốc khánh nước CHDCND Lào (17/12/2012)
Sinh viên GDCT đạt giải Nhì Hội thi Tiếng hát sinh viên năm 1&2 - ĐHSP Huế 2012 (05/03/2013)
LCĐ Khoa GDCT tổ chức Hội nghị cán bộ Đoàn - Hội chủ chốt năm 2012 (15/11/2012)
Khoa GDCT tổ chức Hội nghị trao đổi kinh nghiệm học tập, nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên năm 1&2 (14/11/2012)
Sinh viên Khoa GDCT tham gia vòng sơ khảo Hội thi ''Tiếng hát sinh viên năm 1&2'' năm 2012 (14/11/2012)
Khoa GDCT tổ chức Lễ Kết nạp đảng viên mới (14/11/2012)
Công đoàn khoa GDCT tiến hành Đại hội nhiệm kỳ 2013 - 2017
Nhằm đánh giá và tống kết lại những hoạt động của Công đoàn Khoa trong nhiệm kỳ qua và đề ra phương hướng cho nhiệm kỳ tới, sáng ngày 20/11 tại Phòng đa năng, Trường ĐHSP Huế, Công đoàn Khoa GDCT đã tiến hành Đại hội. (11:14:11-04/12/2013)
Chiến thắng vang dội của Khoa GDCT trong cuộc thi tiếng hát SV năm 1&2
Hướng tới chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Trong đêm chung khảo Cuộc thi tiếng hát sinh viên năm 1&2 năm 2013,đội thi của Sinh viên Khoa GDCT đã giành được ngôi vị quán quân. (10:54:50-04/12/2013)
LCĐ Khoa GDCT đạt giải nhì Hội thi Cán bộ Đoàn cơ sở giỏi năm 2013
Ngày 31 tháng 3 năm 2013, Liên Chi đoàn Khoa Giáo dục Chính trị đã tham gia và đạt giải Nhì toàn đoàn Hội thi Cán bộ Đoàn cơ sở giỏi Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế.
(17:11:32-01/04/2013)
Giao lưu văn nghệ ''Âm vang Trường Sa''
Tối ngày 26 tháng 03 năm 2013, Khoa Giáo dục Chính trị đã tổ chức đêm sinh hoạt chính trị, giao lưu văn nghệ và gặp mặt nhân vật lịch sử với chủ đề "Âm vang Trường Sa".
(23:13:06-28/03/2013)
© 2008 Trường Đại học Sư phạm Huế
Các trình duyệt hỗ trợ tốt: Google Chrome, Firefox, Opera, Safari